|
|
LỊCH SỬ PHÁT
TRIỂN CỦA KARATEDO
Thời hồng hoang nguyên thủy, khi con người c̣n săn
bắt hái lượm cũng đă biết vơ thuật để tồn tại. Ngày
nay, mọi người trên thế giới vẫn nghĩ về Okinawa -
Một ḥn đảo lớn nhất của quần đảo Ryukyu là đất tổ
của Karatedo (Không Thủ Đạo).
Vào đời nhà Lương ở Trung Quốc, năm 520 (sau Công
nguyên) có một vị sư (Tổ sư thứ 28 của Phật giáo) từ
Ấn Độ sang Trung Quốc truyền đạo đó là Bồ Đề Đạt Ma
(Bodhidharma). Tại đây, ông là Sơ tổ của Thiền tông.
V́ vua Lương Vơ Đế và triều thần không hiểu được
diệu đạo nên ông vượt sông Trường Giang (theo truyền
thuyết trên một cọng cỏ lau) đến trú tŕ tại chùa
Thiếu Lâm (tỉnh Phúc Kiến) ngồi thiền ( Zazen) nh́n
vách đá chín năm. Pháp môn tu tập của ông rất khó
nghiên cứu mà phải chứng nghiệm trực tiếp (Giáo
ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ chân tâm,
Kiến tánh thành Phật). Một hôm, ông thấy môn đồ
không chịu đựng nổi thời tiết giá rét khắc nghiệt
khi hành thiền, nên thét lên một tiếng “Kiai” để lay
thức nội tâm, hợp nhất sức mạnh, gia tăng khả năng
chịu đựng cho các đệ tử. Từ đó, ông hướng dẫn Dịch
Cân Tẩy Tủy Kinh để bảo tồn sức khỏe và mười tám thế
vơ giúp đệ tử vượt qua trở ngại, khó khăn khi đi
truyền đạo. V́ vậy, nên người ta gọi là Shorin Kempo
(vơ Thiếu Lâm), thời nhà Đường có tên gọi là Tote (Đường
Thủ).
Đến thế kỷ 15, khi Ryukyu c̣n bị Trung Quốc thống
trị, một vị Lănh sự Trung Quốc đă mang môn Shorin
Kempo của nước này đến Ryukyu . Tại đây, môn Kempo
của Trung Quốc đă được chấp nhận và bản địa hóa. Lúc
đầu, nó chỉ truyền bá trong khu kiều dân Trung Quốc,
được h́nh thành ở ngoại ô thành phố Naha rồi sau đó
xuất hiện ở Shuri và Tomari. Tuy nhiên, sau Kỷ
nguyên Kamakura (năm 1200), môn Kempo này cũng không
giữ được bí truyền. Nó được người Nhật khám phá,
nghiên cứu và phối hợp với nhiều vơ phái để có một
môn vơ khác khoa học và thực dụng hơn.
Năm 1429, vào thời Muromachi, vua Sho Hashi hoàn tất
việc thống nhất các lănh địa ở Okinawa . Để ngăn
chặn mưu toan nổi loạn, nhà vua nghiêm cấm việc sử
dụng vũ khí ngoại trừ quân đội, các nhà quư tộc và
triều đ́nh. Đến thế kỷ 17 (năm 1609), dân chúng trên
đảo chịu sưu cao thuế nặng bởi sự xâm chiếm của Lănh
chúa Satsuma, nhất là lúc quyền lực tập trung trong
tay của Tổng đốc Toyotomi Hideyoshi mà dân chúng
thời đó gọi là “cuộc săn kiếm của Hideyoshi”. Người
dân chỉ được phép dùng dao khi đă đăng kư mượn trong
một thời gian rất ngắn nên từ đó, các hệ phái môn
Kempo đă phải hoạt động ngầm. Người dân đảo này muốn
thắng được quân lính có trang bị vũ khí sắt bén họ
phải nung nấu ư chí bằng cách hạ thủ đối phương chỉ
bằng một đ̣n đánh. Muốn được vậy, họ bí mật khổ
luyện hằng ngày, qua nhiều tháng năm đă biến tay
chân và những bộ phận khác của cơ thể thành một thứ
vũ khí có sức hủy diệt lớn. Để có hiệu quả của lực
công phá, họ phải tập cho chai cứng các ngón tay,
nắm đấm, phải xĩa hàng ngày vào thùng đậu dần dần
cho đến tận đáy thùng hàng ngh́n lần. Sau một thời
gian luyện tập điều đặn, bài tập này được thay vào
là cát, sạn, sắt vụn và các vật thể khác. Để có được
một quả đấm trên 700Kg, hằng ngày họ phải đấm qua
thác nước không để ướt tay hoặc gắp ruồi trên chén
cơm để luyện một đ̣n đấm, một cú chặt bằng cạnh bàn
tay. Muốn có một cú đá trên 1000Kg, họ đá hàng vạn
lần vào các thân cây, bó mây có tính đàn hồi . Trong
kỹ thuật của nghệ thuật tự vệ, đ̣n đấm, đá, đỡ… phải
cực nhanh mới tạo ra sức mạnh và đạt tốc độ tối đa.
Vận tốc sẽ làm tăng động lực theo công thức KE=1/2 M
x V2 (KE là động lực, M là khối lượng, V là tốc độ).
Nếu khối lượng (M) tăng gấp đôi th́ động lực (KE)
tăng gấp đôi. Nếu tốc độ (V) tăng gấp đôi th́ động
lực (KE) sẽ tăng gấp bốn lần. Đồng thời, họ áp dụng
lực phản (→N = -→P) tức là đánh (hoặc đá) ra giật
vào cùng một thời gian (trên một đường thẳng khương
tuyến) như viên đạn bắn ra khi xuyên phá mục tiêu
mới có hiệu quả. Đ̣n đỡ (Uke) cũng sẽ giảm tác dụng
nếu không áp dụng quán tính Moment (↑↔↓M=F. d). Vai
tṛ của hông, vai, lưng… khi thực hiện kỹ thuật phối
hợp với bụng dưới sẽ tạo lực rất nhiều cho sức mạnh
tổng thể, xuyên suốt. Nguyên lư thăng bằng (F1d1=
Fedz, →F21 = -→F12) được áp dụng là điều không thể
thiếu vắng. Từ huyệt Đan Điền (Taden) trở xuống chân
đế là nơi chịu trọng lượng cơ thể để giữ thăng bằng,
vai tṛ của hai bàn chân làm nhiệm vụ di động cho
trọng lượng đó. Nếu phối hợp liên động nguồn lực (Kime)
toàn thân với các nguyên lư trên, đ̣n thế của họ khi
đến mục tiêu sẽ mang lại kết quả tuyệt diệu. Khi cần
dứt điểm, họ thét “Kiai”để huy động tập trung cường
lực phối hợp với hơi thở mới có thể phá vỡ áo giáp
sắt hay chiếc mũ thép của đối phương được. Phương
pháp thở bằng cơ hoành cũng được phối hợp nhịp nhàng
qua các kỹ thuật. Họ phải ngồi Thiền (Zazen) hằng
ngày cho đầu óc trống không, tập trung tư tưởng để
khai thác năng lượng bản thân. Sự phối hợp pḥng ngự,
công, thủ được các cao thủ chiêm nghiệm giữa thiên
nhiên và con người, hoặc qua thực chiến để sáng tạo
thành những quyền pháp (Kata) rất có ư nghĩa.
Để
qua mắt đối phương, họ sáng tạo các vũ khí trá h́nh
làm cho đối phương bất ngờ, phải khiếp sợ. Đó là
những nông cụ để tác nghiệp của người nông dân chống
lại dáo, gươm, thương, kích… khiến đối phương phải
nhiều phen chiến bại. Những vũ khí này trước tiên là
đ̣n gánh dài khoảng 2m như trường côn (Bo) sử dụng
quyền biến trong mọi t́nh huống. Tiếp theo là chiếc
néo đập lúa (c̣n gọi là côn nhị khúc hay Nunchaku)
được sử dụng vừa bảo vệ thân thể vừa tấn công đa
phương, làm đối phương có vũ khí sắt bén khó xoay xở
được. Câu liêm (Kama), cặp câu liêm (lưỡi hái) cũng
là vũ khí nguy hiểm cho đối phương mang kiếm. Đ̣n
xay bột (Tonfa) với đường đi rất khó nhận biết vô
cùng lợi hại khi sử dụng hai cái. Xóc rơm đinh ba (Sai)
như một kiếm ngắn nhưng trùi mũi, đánh được cả hai
đầu, có hai mấu để bắt, khóa, có thể sử dụng hai
hoặc ba Sai trong tay một người sử dụng thành thạo.
Lúc lâm trận, nó có thể gài bắt, ném, phóng và bẻ
găy kiếm đối phương một cách dễ dàng. Đa phần các
loại vũ khí của Okinawa đều làm cho đối phương không
ngờ và dấu diếm an toàn ở tay áo hoặc ngực áo. Với
tŕnh độ cao, người sử dụng có thể khống chế kiếm,
kích, mă tấu v.v....
Đến thế kỷ 18, chính sách nghiêm cấm sử dụng vũ khí
trong dân chúng nói trên chấm dứt. Năm 1901,
Karatedo được chấp nhận như một môn học trong chương
tŕnh giáo dục thể chất tại các trường phổ thông ở
Shuri của Okinawa nên c̣n được gọi là Okinawate. V́
có sự ḥa trộn giữa vơ cổ truyền người Nhật và môn
vơ gốc Okinawa nên qua các thời kỳ nó có nhiều tên
gọi khác nhau.
Vào đầu thế kỷ 20 (năm 1916), thầy Gichin Funakoshi
- Người đă Hiện đại hoá Karatedo (Học tṛ của Tổ sư
Yasutsune Itosu) từ Okinawa về Nhật Bản truyền bá
môn Karatedo hiện đại. Tháng 5 – 1922, tại trung tâm
Thể dục thể thao Tokyo, thầy đă giới thiệu và biểu
diễn môn vơ này. Sau đó, thầy giữ chức Chủ tịch Hội
vơ thuật Cấp tiến Xă hội Okinawa (Okinawa – Shobukai).
Đến năm 1929, thầy Gichin Funakoshi đă thay đổi các
từ tượng h́nh để viết chữ “Không” theo nghĩa “Hư vô”
nhấn mạnh tính không của vạn pháp dựa theo nguyên lư
“Vô hành, vô tâm, tâm vô trú xứ” và lấy tên là
Karatedo (Không Thủ Đạo). Thầy cũng hệ thống lại môn
vơ này thành ba phần chính là : Kỹ thuật căn bản (Kihon
Kititsu), Quyền (Kata) và Đối luyện (Kumite) được
các hệ phái khác ủng hộ, thời kỳ này gọi là Shin
Karatedo (Tân Không Thủ Đạo). Cũng ở thời gian này,
các câu lạc bộ được thành lập trong các trường Đại
học Hoàng gia ở Tokyo, Shoka, Takusoku…
Năm 1930, thầy Kenwa Mabuni (Chưởng môn Hệ phái
Shito Ryu) và Chojun Miyagi (Chưởng môn Hệ phái Goju
Ryu) cũng đă thành lập nhiều Câu lạc bộ Karatedo lớn
ở Osaka. Đến năm 1935, thầy Gichin Funakoshi biên
soạn và xuất bản cuốn sách “Karatedo Kyohan” tạo
bước phát triển vững chắc trong làng vơ thuật Nhật
Bản. Năm 1936, thầy đă thành lập Hệ phái Shotokan
Ryu (Tùng Đào Quán Lưu). Sau này, thầy Hironiri
Ohtsuka cũng thành lập Hệ phái Wado Ryu (Ḥa Đạo Lưu).
Bốn hệ phái chính này có một số nét đặc trưng pḥng
ngự như sau:
1) Hệ phái Shotokan Ryu (Tùng Đào Quán Lưu): “Đ̣n đỡ
cũng là đ̣n tấn công dưới sự bộc phát của cường lực
(Kime) cao nhất” .
a) Sức mạnh: Tốc độ càng nhanh th́ sức càng mạnh,
cường lực càng dũng mănh mới xuyên phá được mục tiêu
như khi luyện công phá. Bạn phải tập trung sức mạnh
bàn tay (hoặc chân) và khi va chạm phải xuyên suốt
bất kỳ vật cản nào mới mang lại hiệu quả. Trong đối
kháng hiện đại, khi một đ̣n đấm thuận vào trung tâm
cơ thể đối phương, bạn dùng bàn chân trước để xoay
mũi chân sau về trước, tay cùng chiều với chân đấm
ra chuyển thân ḿnh thành tấn trước, vai nghiêng 450
khi chân chạm đất trước mặt. Hiệu quả của nó là ở
cường lực xuyên phá. Trong đối kháng truyền thống,
lúc đối phương đang lao nhanh vào tấn công bạn là
thời điểm bạn sử dụng sức mạnh tối đa, chỉ cần một
kỹ thuật đá ngang (Yoko geri) cho hai lực nghịch
cộng lại sẽ có hiệu quả tốt. Đỡ bằng nắm đấm (Ken)
để ngăn chặn đ̣n tấn công của đối phương trực tiếp
là lấy sức mạnh để phá vỡ sức mạnh.
b) Tốc độ: Đỡ nhanh nhẹn, nhu nhuyễn. Nó thuần về kỹ
thuật tay mở (Sho), không va chạm trực tiếp, để linh
hoạt dự bị cho những kỹ thuật phản công ngay sau khi
đỡ. Đồng thời, bạn phải phối hợp tốt di chuyển thân
pháp nhanh nhẹn để thực hiện kỹ thuật.
Những kỹ thuật căn bản nhưng được tập luyện thường
xuyên như: Jodan age uke, Chudan uchi uke, Gedan
Barai để được chuẩn xác phương hướng, phát lực hiệu
quả. Sau đó, bạn tăng tốc độ, di chuyển theo đ̣n tấn
công của đối phương. Những kỹ thuật này được biến
thế qua kỹ thuật tay mở. Dạng này cũng được áp dụng
trong các quyền thức các bài quyền nhập môn chủ yếu
là nắm tay. Khi quá tŕnh luyện tập lâu hơn, theo
tŕnh độ tăng tiến, bàn tay mở sẽ áp dụng nhiều hơn.
Đ̣n đỡ của Shotokan Ryu là Tốc độ + Sức mạnh = Kime.
2) Hệ phái Wado Ryu (Ḥa Đạo Lưu): “ Đ̣n đỡ cũng là
điều kiện để tấn công”.
Đ̣n đỡ luôn là động tác dự bị tấn công, nó sẽ không
thực hiện nếu không nhằm mục đích tấn công. Đ̣n đỡ
muốn có hiệu quả phải trên cơ sở đ̣n tấn công của
đối phương nương theo chiều tấn công, không cản lại
bằng những kỹ thuật Nagashi (ḍng chảy), Inashi (đă
qua) và Nori (cưỡi) để làm giảm lực tấn công của đối
phương.
Khi đỡ đ̣n, kỹ thuật rất đa dạng, nhiều bộ vị trên
cơ thể được sử dụng triệt để, tiến thoái xoay chuyển
được chia đều cho toàn thân để nương một cực nhỏ
chống đối lại cực lớn với phương pháp “Tam vị nhất
thể” (3 trong 1). Ví dụ: đối phương tấn công một đ̣n
đấm vào mặt, bạn sẽ nương theo đ̣n ấy chia đều
khoảng cách cho các kỹ pháp: chuyển vị tức là thay
đổi vị trí chân, chuyển thể tức là xoay chuyển toàn
thân bằng hông và chuyển kỹ tức là làm biến đổi kỹ
pháp. Nếu được vậy, bạn sẽ không chỉ vận dụng nhiều
kỹ thuật ở đôi tay mà là của kỹ thuật toàn thân.
Trong tập luyện, bạn luôn ư thức ”Pḥng ngự là tấn
công và tấn công cũng là pḥng ngự”, không sử dụng
kỹ thuật đơn điệu mà phải sáng tạo.
3) Hệ phái Shito Ryu (Mịch Đông Lưu): “Quán tưởng (nh́n
thấy) đối phương để có kỹ thuật phù hợp”.
Hệ phái này chú trọng các động tác nhanh nhẹn,tư thế
đối kháng với tấn cao di động hữu hiệu, ít sử dụng
lực, không cứng nhắc nguyên tắc mà sáng tạo phù hợp
theo thể tạng mỗi người.
Quan điểm của Hệ phái Shito Ryu theo phương châm:
a) Rakka (Cánh hoa rơi): Đón đỡ đ̣n tấn công của đối
phương đến như hứng đỡ cánh hoa đang rơi xuống mặt
đất.
b) Ryusui (Ḍng chảy): Khi đỡ đ̣n tấn công của đối
phương, ta phải nương theo lực đánh của họ như ḍng
nước chảy chứ không đỡ trực tiếp.
c) Ten-i (Hoán vị): Đ̣n tấn công của đối phương đến,
chúng ta di chuyển thích hợp theo một trong tám
hướng với đ̣n tấn công đó.
d) Kussin (Ẩn thân): Đ̣n tấn công của đối phương đến,
chúng ta hóa giải bằng cách co duỗi thân thể, tạo
khoảng cách an toàn mà đ̣n tấn công không thể va
chạm được, ngay sau đó trở về vị trí cũ để phản công.
e) Hangeki (Phản kích): Pḥng ngự và tấn công là một
(Công pḥng nhất thể), các bạn hóa giải được từ dự
đoán được đ̣n tấn công của đối phương và phản công
ngay cử động đầu tiên.
Tất cả phương pháp hóa giải của Hệ phái Shito Ryu
được tập luyện từ kỹ thuật căn bản đến quyền thức,
luôn ước lượng tốc độ, sức mạnh đối phương để áp
dụng kỹ thuật có lợi thế cho ta. Nếu bạn cảm thấy
t́nh huống khoảng cách không có lực, hăy áp dụng
“Cánh hoa rơi”. Bạn hăy luôn soi rọi, t́m kiếm kẻ hở
của đối phương để có kỹ thuật phù hợp.
4 )Hệ phái Okinawa Goju Ryu (Cương Nhu Lưu):
Quan niệm của hệ phái này là “Chuyển động tṛn” tức
ứng dụng trong pḥng ngự hoặc tấn công muốn có hiệu
quả tốt, phải xoay chuyển liên động của các thành
phần thân thể: hông, vai, cánh tay, chân v.v…Để hóa
giải, bạn ứng dụng quán tính Moment (↑↔↓M=F. d ) vào
kỹ thuật để lực mạnh nhất phát sinh vào giai đoạn
giữa, khi lực va chạm đến sẽ bị triệt tiêu. Trong
Goju Ryu, kỹ thuật được ước lượng tốc độ và sức mạnh,
những sức mạnh không có lợi sẽ bị loại bỏ dần, kết
hợp với các kỹ thuật nhu để cương nhu được nhuần
nhuyển tạo ra sức mạnh tối đa. Hệ phái này chú trọng
những điểm nhấn về các động tác nhanh-chậm-thả lỏng
kết hợp sự điều khí hít thở cơ bụng, các kỹ thuật
ngắn gọn, chặt chẽ. Phương pháp tập luyện có 3 cách:
a) Luyện kỹ thuật Hachisabaki (Tám tám): Cánh tay
xoay chuyển theo h́nh số 8 tạo sự linh hoạt cho chân
và hông. Phương pháp di chuyển 4 phương hướng chính
900 và 4 hướng chếch 450.
b) Kakie (Quái thủ): Tạo sự niêm dính của hai cánh
tay.
c) Sanchin (Tam chiến): Bài quyền giúp tấn pháp kiên
cố để phát triển toàn diện.
Karatedo có trên một trăm hệ phái, mặc dù có rất
nhiều hệ phái khác nhau nhưng tất cả đều theo một hệ
thống vơ thuật thế giới.
Đến năm 1940, Karatedo được tôn vinh ở Nhật Bản, trở
thành bộ môn tiêu biểu nhất trong làng vơ thuật nước
này, rất nhiều trường Trung, Đại học đă thành lập
Câu lạc bộ riêng. Karatedo không những được giới trẻ
yêu thích để phát triển thân thể cường tráng, giáo
dục tinh thần và thể chất mà c̣n đến với giới trung
niên, các em thiếu niên như một phương cách ǵn giữ
sức khỏe. Môn vơ này cũng rất tiện ích cho người phụ
nữ nào muốn có một thân h́nh thon thả và để tự vệ
khi cần thiết. Cũng vào năm này, thầy Choji Suzuki (Tổ
sư của Karatedo Việt Nam) - Thuộc Hệ phái Takeno
Uchi Ryu (Trúc Chi Nội lưu) của ḍng thiền Soto (Tào
Động) ở Nagasaki truyền thụ với mục đích “làm giàu
tri thức, giàu ứng xử và giúp người là giúp ḿnh”.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc vào
năm 1945, thầy t́nh nguyện ở lại Việt Nam dạy những
bài vơ Karatedo truyền thống đầu tiên mang tính
chiến đấu thực dụng cho bộ đội, tự vệ ở Liên khu bốn,
sau đó chuyển công tác về Liên khu năm. Đến năm
1956, thầy thành lập Đạo đường Linh Trường Không Thủ
Đạo (Suzucho Karatedo Dojo Noen Ryu) tại Huế,
Suzucho là họ và tên ghép của người sáng lập nhưng
cũng có nghĩa là “Tiếng chuông vang xa”. Hệ thống
giảng dạy của hệ phái này là phương pháp Tewaza,
Ashiwaza, Ukewaza, Ozodosad… cùng 9 bài quyền Yen và
Maki nhằm mục đích “làm giàu tri thức, giàu ứng xử
và không v́ danh lợi cá nhân, quyền lực, được, mất,
thực, hư ở cơi người” với tôn chỉ truyền thống:
“Nhân ái, Trí tuệ, Dũng cảm” để rèn luyện tinh thần
và thể chất, hành xử quang minh, chính trực, công
bằng và cao thượng. Lấy sự chính trực và ḷng chân
thật làm hành trang đi tới Đạo. Với môn quy rất
nghiêm khắc, người nhập môn phải chuẩn mực đạo đức,
tôn trọng Đạo đường (Dojo), nghi thức, trung thực
với mọi người, không chửi thề, thậm chí không hút
thuốc lá, uống rượu. Họ được tôi luyện để b́nh thản
với thắng, thua ở đời thường bằng một niềm tin, thấu
đáo mọi lẽ, với khát vọng, ước ao đă hoạch định để
hành động nổ lực đến mục đích mong muốn, nhằm vươn
tới Chân - Thiện - Mỹ. Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu
có độ dày hoạt động khá lâu và nhất là thầy Chưởng
môn sống gắn bó hơn nữa cuộc đời ḿnh với Việt Nam -
Nơi có truyền thống văn hóa lịch sử hào hùng nên hấp
thụ nền văn hóa ở đây. V́ thế, môn vơ này mặc nhiên
trở thành Karatedo Việt Nam, có lực lượng môn sinh
đông đảo nhất. Hiện nay hơn bốn vạn người tập luyện
hằng ngày với năm khu vực của sáu mươi tư tỉnh,
thành. Ngoài ra, hệ phái c̣n có trên mười Phân đường
đă phát triển ở các quốc gia khác như Australia, Mỹ,
Canada và Đông âu…Thời gian qua, Karatedo Việt Nam
đă gặt hái nhiều thành quả vẻ vang với rất nhiều huy
chương vàng, bạc ở các giải Khu vực, Châu lục và Thế
giới mang vinh quang về cho Tổ quốc. Tổ chức Hệ phái
hoạt động theo truyền thống của cố Chưởng môn đời
thứ nhất: Choji Suzuki, được sự bảo trợ của Uỷ ban
Thể dục Thể thao Việt Nam. Chưởng môn bổ nhiệm
Trưởng tràng thành lập Ban Chấp hành, Ban Thường vụ
và các Ban Chuyên môn. Chưởng môn có thể băi miễn
nếu Trưởng tràng và Ban Chấp hành làm việc không
hiệu quả. Hiện nay, Hệ phái này đă chuẩn hóa kỹ
thuật hài ḥa với bốn Lưu phái chính là Shotokan Ryu
(Tùng Đào Quán Lưu), Wado Ryu (Ḥa Đạo Lưu), Shito
Ryu (Mịch Đông Lưu) và Okinawa Goju Ryu (Cương Nhu
Lưu) để cải tiến phương pháp huấn luyện và luyện tập
được phát triển trên diện rộng. Môn vơ này có thể
hoà trộn, thẩm thấu Karatedo Hiện đại và Karatedo
Truyền thống để trở thành Karatedo Việt Nam nhưng
nét đặc trưng của Suzucho Ryu - Nền móng của tự vệ
truyền thống sẽ không lẫn vào đâu được. Ngày
18-3-2007, Hệ phái Suzucho Ryu đă tiến hành Đại hội
Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2007-2012)
tại TP.Hồ Chí Minh, đă thống nhất 9 chương tŕnh
hành động cụ thể của nhiệm kỳ này với tinh thần đoàn
kết, trí tuệ, sáng tạo, chủ động hội nhập và phát
triển. Đại hội đă thông qua sửa đổi môn quy, quyết
định kể từ nay hệ phái có tên gọi là Suzucho
Karatedo Ryu (Linh Trường Không Thủ Đạo Phái), phù
hiệu hệ phái theo đúng mẫu cũ (Sư huynh Hạ Quốc Huy
thiết kế từ tháng 3-1973), Tổ sư Suzucho Karatedo
Ryu : Choji Suzuki (Phan Văn Phúc), Chưởng môn đời
thứ hai: Tokuo Suzuki (Phan Văn Minh Đức). Học tṛ
xuất sắc của thầy Choji Suzuki là Lê Văn Thạnh, hiện
Trưởng tràng Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu - Phó Chủ
tịch Liên đoàn Karatedo Lâm thời Việt Nam - Trọng
tài Quốc gia - Huấn luyện viên Đội tuyển Karatedo
Việt Nam - Trưởng Bộ môn Karatedo tỉnh TT Huế; Lê
Công - Phó Trưởng tràng Hệ phái Suzucho Karatedo Ryu
- Phó Chủ tịch Liên đoàn Karatedo Lâm thời Việt Nam
- Huấn luyện viên Trưởng Đội tuyển Karatedo Việt Nam
- Trọng tài Quốc gia; Phó Trưởng tràng Ngô Văn Thanh,
Phó Trưởng tràng Nguyễn Tấn Kiệt và Tổng thư kư
Nguyễn Ngọc Thạo…ngoài ra, c̣n có các cao đồ và môn
đồ như Henry Nguyễn Xuân Dũng, Hạ Quốc Huy, Trần
Đ́nh Tùng, Khương Công Thêm, Hoàng Như Bôn, Nguyễn
Bá Kiều, Trần Định, Dương Đ́nh Vinh, Nguyễn Chí Trí,
Tôn Vĩ Đại, Trương Dẫn, Nguyễn Đ́nh Kỉnh, Phan Hữu
Bốn, Nguyễn Thông, Trương Đ́nh Hùng, Lê Văn Phước,
Hoàng Công Minh, Nguyễn Đ́nh Anh Tuấn, Nguyễn Thành
Tự, Nguyễn Phi Hổ, Huỳnh Văn Muôn, Lê Văn Lộc, Lê
Văn Thọ, Hồ Vũ Sang, Vũ Kim Anh, Nguyễn Nguyệt Ánh,
Nguyễn Đ́nh Sơn, Dương Phước Hùng, Vơ Ngọc Tín,
Dương Đ́nh Hội, Nguyễn Kính, Hoàng Mai Sơn, Phạm
Hồng Hà, Hà Thị Kiều Trang, Nguyễn Thị Thảo Quyên,
Hồ Thu Nguyệt Hằng, Nguyễn Hoàng Ngân v.v…đă đóng
góp rất nhiều cho sự phát triển Karatedo Việt Nam
ngày nay.
Vào năm 1950, các giải Karatedo được lần lượt tổ
chức và phát triển mạnh mẽ tại các trường Đại học
Nhật Bản. Thời kỳ này, ở đất Phù Tang, Karatedo tiến
xa hơn những khu vực khác cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Đến năm 1958, Hội Karatedo Nhật Bản tổ chức giải vô
địch Karatedo Toàn quốc đầu tiên. Luật lệ thi đấu
Không Thủ Đạo đă được đặt ra nhằm mục đích hạn chế
tối đa chấn thương, tử vong của vận động viên khi
tranh giải. V́ vậy, các cuộc tranh tài càng phát
triển, nhất là giữa các trường Đại học và Karatedo
đă trở thành môn vơ thuật mang tính thể thao. Trong
tất cả kỹ thuật của Karatedo đều phải dựa trên
nguyên lư toán học, vật lư học và phù hợp tâm - sinh
lư học, kỹ thuật cương và nhu được phối hợp khoa học,
với những va chạm ngắn, gọn, hẹp nên rất hiệu quả
trong thực chiến. Hơn nữa, nó là một môn vơ sau nền
tảng căn bản là sự sáng tạo, không mặc định, là một
loại vũ khí tự có của người tập để chiến đấu trong
mọi địa h́nh, địa vật, trong cả không gian và thời
gian hạn chế.
Trong Karatedo, tự vệ, pḥng ngự có nghĩa là tấn
công nên từ kỹ thuật sơ cấp cho đến cấp thượng đẳng
đều không tấn công trước “Karate ni sente nashi”
tinh thần của nó là không bạo lực, luôn nhẫn nhịn,
đa phần hệ thống quyền pháp (Kata) của Karatedo đều
bắt đầu bằng đ̣n đỡ. Mục đích đ̣n đỡ trong Karatedo
là làm lệch hướng đ̣n tấn công của đối phương. Tuy
nhiên, đ̣n đỡ để tự vệ cũng chính là đ̣n tấn công và
không mang ư nghĩa thụ động mà phải sáng tạo triệt
để. V́ vậy, trong Karatedo pḥng ngự tức tấn công và
tấn công cũng là pḥng ngự nên phải có kỹ pháp để
bảo toàn sự pḥng ngự đó và nhất là không dùng sự
hiểu biết về nó vào mục đích không chính đáng. Bởi
vậy, khi tranh tài đối kháng, vận động viên có tâm
an, thần định, có tinh thần thượng vơ và hiểu rơ
huyền vi trong cơi người mới lĩnh hội được điều này.
Sở dĩ Karatedo hấp dẫn mọi người khắp năm châu chính
v́ tính chất khoa học, thực dụng, mang tính thẩm mỹ
và văn hóa đạo đức của môn vơ này: chiến thắng nhưng
tôn trọng đối phương, không hănh tiến. Cho đến nay,
Karatedo đă được truyền bá khắp nơi trên thế giới,
từ Đông sang Tây với sự năng nổ của các Vơ sư, Huấn
luyện viên nhiều quốc gia khác nhau. V́ thế,
Karatedo đă trở thành tài sản chung của cả nhân loại.
Năm 1960, tổ chức Hiệp hội Không Thủ Đạo Thế giới
gọi tắt là W.U.K.O (The World Union of the Karatedo
Organization) được thành lập. Kể từ đó, bằng nổ lực
của ḿnh, tổ chức Hiệp hội đă gieo vào nhận thức của
các môn sinh Không Thủ Đạo những ước mơ cao đẹp, tất
cả v́ hạnh phúc của con người qua các kỳ thi Thế vận
hội. Đến năm 1994, Hiệp hội này được đổi tên thành
Liên đoàn Karatedo Thế giới (W.K.F), điều hành các
hoạt động Karatedo khắp nơi trên thế giới, ban hành
luật chuyên môn và tổ chức tranh giải quốc tế. Hiện
nay, tổ chức này có trên 156 quốc gia, chia thành 5
Liên đoàn: LĐ Karate Châu Âu (EKF), LĐ Karate Liên
minh Mỹ (PKF), Liên minh Châu Phi (UFAK), LĐ Karate
Châu Á (AKF) mà Việt Nam cũng là thành viên và LĐ
Karate Châu Đại Dương. Karatedo đă trở thành biểu
tượng thành tựu về thể lực đẹp nhất của nhân loại.
Nổi trội với tính đại chúng trên khắp toàn cầu là
yếu tố không thể thiếu để cấu thành Liên đoàn Không
Thủ Đạo Thể thao Quốc tế (International federation
for Karatedo Sport).
Quá tŕnh phát triển của Karatedo được biết nhiều từ
Ấn Độ sang Trung Quốc đến Okinawa về Nhật Bản và ra
thế giới. Karatedo là một Đạo mà người Nhật đă đem
nó áp dụng vào cuộc sống và xă hội nên phải có
chương tŕnh đào tạo khoa học cũng như được hệ thống
hóa toàn cầu. Hơn thế nữa, nó giúp con người - một
“tiểu vũ trụ” điều ḥa quân b́nh âm dương để tâm,
trí được an định, bớt tham dục.
Trà đạo, Kiếm đạo, Hoa đạo cũng có nguồn gốc từ lục
địa nhưng hưng thịnh ở Nhật Bản vào thế kỷ 13 - Thời
Hojo Tokimare. Mỗi khi được bắt rễ trên các đảo th́
luồng văn hóa đó phát triển một cách đặc biệt, nó
không hoàn toàn phá hủy cái mới mà làm cho cái mới
hoàn thiện hơn. Nghệ thuật tự vệ Không Thủ Đạo cũng
vậy, chủ yếu là nó giáo dục thể chất và tinh thần để
mang tính thể thao thời thượng đến với Thế vận hội.
Môn sinh diễn đạt một bài quyền (Kata) sẽ kích thích
và khơi dậy tính sáng tạo trong con người. Một bài
quyền Karatedo là cách điệu hóa các động tác kỹ
thuật qua một chuỗi liên động thi đấu với đối thủ
tưởng tượng, nó có khả năng truyền tải một lượng
thông tin và sức mạnh lớn lao. Chức năng của đối
kháng (Kumite) là dẫn dắt để khám phá ra sự thật
trong bản tính con người thông qua việc tiếp cận và
lư giải khi trận đấu đang xảy ra, từ đó tự t́m cho
ḿnh một vị trí chiến đấu thích hợp, hoàn hảo. Nếu
chúng ta ứng dụng trong cuộc sống, nó sẽ bồi đắp
thêm sự hăng say, sáng tạo trong công việc, luôn yêu
thương giúp đỡ mọi người, phát triển thể chất, tâm
và trí với tinh thần tự tại, tự giác. Vơ đạo của
Karatedo là văn hóa ứng xử giữa con người với tự
nhiên, con người với con người và con người với
chính bản thân ḿnh.
Karatedo là môn vơ khoa học hiện đại, là nghệ thuật
chiến đấu thực dụng nhưng bằng đức công bằng và ḷng
nhân ái. Thẩm thấu về Karatedo rất giống với sự
thưởng thức nghệ thuật, phải chăng nó là bản tổng
phổ trong âm nhạc, một bài thơ, một công tŕnh kiến
trúc hay một tác phẩm điêu khắc? hoặc cũng có thể
hơn một kiệt tác nghệ thuật? Xét cho cùng th́
Karetedo do tự thân sinh ra, nó chính là Đạo và được
con người bắt gặp như một kiệt tác văn hóa.
Hiện nay, Karatedo dù là thể thao hay truyền thống
cũng đều phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các
vận động viên toàn cầu cùng đến với nghệ thuật. Tất
cả nhằm tạo dựng tinh thần, hoàn thiện nhân cách,
phát triển tuệ giác, tính trung thực và đúng đắn của
nhân loại
Nguồn
PHAN CHI |
|
|